Nghị quyết 21-NQ/TW: 6 quan điểm, mục tiêu và định hướng sửa đổi Luật Đất đai mới nhất

Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm trong việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 cùng các luật có liên quan.

Nghị quyết 21-NQ/TW
Nghị quyết 21-NQ/TW

Nghị quyết tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng đất, đồng thời khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

Những quan điểm chỉ đạo trọng tâm về sửa đổi Luật Đất đai

Nghị quyết số 21-NQ/TW xác định việc sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan phải kế thừa những nội dung còn phù hợp của Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022, đồng thời bổ sung nhiều định hướng mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng đất đai. Các quan điểm này được xem là nền tảng để hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai trong giai đoạn phát triển mới.

Xem chi tiết: Nghị quyết 21-NQ/TW

Đất đai tiếp tục thuộc sở hữu toàn dân

Nghị quyết khẳng định đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, vừa là không gian sinh tồn, vừa là nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Theo định hướng của Nghị quyết:

  • Tuyệt đối không tư nhân hóa đất đai.
  • Không cho phép người nước ngoài nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức, trừ trường hợp là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
  • Nhà nước thực hiện đầy đủ quyền của đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định giá đất và thực hiện điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không do người sử dụng đất tạo ra.
  • Việc thu hồi đất phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật, công khai, minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình.

Bên cạnh đó, công tác quản lý đất đai được yêu cầu thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi kèm với cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm nhằm bảo đảm việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và phục vụ lợi ích chung của toàn dân.

Quyền sử dụng đất được xác định là tài sản đặc biệt

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là tiếp tục khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu.

Theo đó:

  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ.
  • Người sử dụng đất thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
  • Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp đã được xác lập theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ.
  • Không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai.
  • Không điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; đồng thời nghiên cứu chính sách phù hợp để nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững.

Quan điểm này góp phần bảo đảm tính ổn định của quan hệ pháp luật về đất đai, đồng thời củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp trong quá trình đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Chuyển từ tư duy bồi thường sang tái thiết cuộc sống cho người dân

Nghị quyết đặt ra định hướng mới trong chính sách thu hồi đất khi chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”.

Theo đó, việc thu hồi đất không chỉ dừng lại ở bồi thường về tài sản mà còn phải hướng đến:

  • Bảo đảm người có đất ở bị thu hồi được cải thiện nơi ở.
  • Nâng cao điều kiện sống.
  • Quan tâm đến sinh kế lâu dài của người dân.
  • Tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở.
  • Khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê với mức giá phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu về chỗ ở của Nhân dân.

Đây là định hướng nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư, đồng thời hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo trong quá trình thu hồi đất.

Hoàn thiện đồng bộ thể chế và chính sách về đất đai

Nghị quyết yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách đất đai theo hướng đồng bộ với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các chính sách phải phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng loại hình sử dụng đất nhằm phát huy tối đa giá trị của nguồn lực đất đai. Đồng thời, cần kiên quyết ngăn chặn các hành vi:

  • Tham nhũng.
  • Lãng phí.
  • Tiêu cực.
  • Đầu cơ đất đai.
  • Sử dụng đất không hiệu quả.

Việc sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan cũng phải bảo đảm tính thống nhất, liên thông giữa các lĩnh vực như đầu tư, quy hoạch, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, tài sản công và thuế.

Hiện đại hóa quản trị đất đai bằng nền tảng số

Một định hướng quan trọng khác là chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu số và công nghệ.

Theo Nghị quyết, công tác quản lý đất đai cần:

  • Được vận hành thống nhất trên nền tảng số.
  • Ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.
  • Hiện đại hóa hệ thống dịch vụ công về đất đai.
  • Điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê và hạch toán đầy đủ nguồn lực đất đai trong nền kinh tế.
  • Bảo đảm việc quy hoạch và sử dụng đất hài hòa với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo liên quan đến đất đai.

Phát huy vai trò lãnh đạo, giám sát trong quản lý đất đai

Để các chủ trương về đất đai được triển khai hiệu quả, Nghị quyết yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng cùng Nhân dân.

Việc xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật về đất đai cần có sự tham gia của nhiều chủ thể nhằm bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Xem thêm: Luật số 31/2024/QH15 – Luật Đất đai mới nhất 2026

Mục tiêu của Nghị quyết 21-NQ/TW

Sau khi xác định các quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết số 21-NQ/TW tiếp tục đề ra mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn, làm cơ sở cho việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 và các luật có liên quan cũng như tổ chức thực hiện trong thời gian tới.

Mục tiêu tổng quát

Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt mục tiêu xây dựng nền quản lý đất đai theo hướng chặt chẽ, công khai, minh bạch và hiệu quả hơn, bảo đảm đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực thúc đẩy phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Song song với đó, việc hoàn thiện thể chế và chính sách về quản lý, sử dụng đất phải được triển khai đồng bộ, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đối với nguồn lực đất đai, Nghị quyết yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng theo nguyên tắc tiết kiệm, bền vững và đạt hiệu quả cao nhất; đồng thời bảo đảm công bằng xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, cần phát huy vai trò là kênh phân bổ nguồn lực đất đai hợp lý, minh bạch và hiệu quả.

Mục tiêu đến hết năm 2026

Đến hết năm 2026, Nghị quyết xác định nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với toàn bộ các thửa đất đã được thu thập thông tin và dữ liệu.

Đây là bước quan trọng nhằm hình thành Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo hướng tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại và phục vụ nhiều mục tiêu quản lý.

Hệ thống này phải đáp ứng yêu cầu:

  • Kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
  • Đồng bộ với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản và các lĩnh vực liên quan.
  • Bảo đảm tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Ngoài ra, các quyết định liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giá đất phải được ghi nhận, công khai và có cơ chế cảnh báo rủi ro.

Mục tiêu đến hết năm 2027

Theo Nghị quyết, đến hết năm 2027 cần cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ về xây dựng dữ liệu nền phục vụ quản lý đất đai trên phạm vi cả nước.

Các nội dung trọng tâm gồm:

  • Hoàn thành cơ bản công tác đo đạc lập bản đồ địa chính.
  • Hoàn thiện hồ sơ địa chính.
  • Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với diện tích chưa có trong cơ sở dữ liệu.

Việc hoàn thiện hệ thống dữ liệu sẽ tạo nền tảng cho quá trình quản lý, khai thác và sử dụng đất đai theo phương thức hiện đại, đồng thời nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính và tăng cường tính minh bạch trong lĩnh vực đất đai.

Mục tiêu đến năm 2030

Đến năm 2030, Nghị quyết hướng tới việc hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về đất đai, bảo đảm thống nhất với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các mục tiêu trọng tâm bao gồm:

  • Khắc phục triệt để tình trạng sử dụng đất lãng phí.
  • Hạn chế đất bỏ hoang, ô nhiễm và suy thoái.
  • Giải quyết những hạn chế, vướng mắc trong quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại.
  • Bảo đảm đất đai được quản lý chặt chẽ, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững.
  • Phân bổ nguồn lực đất đai hợp lý, công bằng và gia tăng giá trị sử dụng.
  • Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, tập trung vào hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế quản lý, hiện đại hóa công tác quản lý đất đai và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển đất nước.

Thống nhất nhận thức về quản lý và sử dụng đất

Nghị quyết yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng cùng các cơ quan báo chí, xuất bản và truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về đất đai.

Mục tiêu của công tác này là giúp cán bộ, đảng viên, Nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp hiểu đầy đủ về:

  • Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
  • Quyền và nghĩa vụ của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
  • Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất.
  • Yêu cầu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
  • Trách nhiệm phòng ngừa tình trạng suy thoái, hủy hoại, lãng phí đất đai cũng như các hành vi tham nhũng, tiêu cực phát sinh trong lĩnh vực này.

Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết là thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng về quản lý và sử dụng đất đai.

Trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai và các luật có liên quan như:

  • Luật về đầu tư.
  • Luật về đấu thầu.
  • Luật về quy hoạch.
  • Luật về xây dựng.
  • Luật về nhà ở.
  • Luật về kinh doanh bất động sản.
  • Luật về tài sản công.
  • Luật về thuế.

Việc sửa đổi phải bảo đảm tính đồng bộ, liên thông và thống nhất giữa các quy định pháp luật.

Theo tinh thần của Nghị quyết, quá trình hoàn thiện thể chế cần hướng tới mục tiêu khơi thông nguồn lực đất đai nhưng vẫn bảo đảm quản lý chặt chẽ; thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội đồng thời không để thất thoát tài sản công, không làm gia tăng bất bình đẳng và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp.

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Nghị quyết số 21-NQ/TW yêu cầu đổi mới công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất theo hướng đồng bộ với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn. Mục tiêu là bảo đảm tính thống nhất giữa các loại quy hoạch, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực đất đai.

Theo định hướng được nêu trong Nghị quyết, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiếp tục nghiên cứu giảm số lượng quy hoạch, tiến tới xây dựng một quy hoạch thống nhất trong phạm vi một đơn vị hành chính trên cơ sở tích hợp các quy hoạch hiện hành.

Bên cạnh đó, việc rà soát nội dung quy hoạch cũng được đặt ra nhằm:

  • Xác định mức độ chi tiết phù hợp với yêu cầu quản lý.
  • Hạn chế tình trạng quy hoạch quá chi tiết làm giảm tính linh hoạt.
  • Quy định chặt chẽ thẩm quyền, trình tự lập và điều chỉnh quy hoạch.
  • Kiểm soát việc điều chỉnh quy hoạch không hợp lý.

Đối với kế hoạch sử dụng đất cấp xã, Nghị quyết định hướng xây dựng theo hướng đơn giản hóa, số hóa và tích hợp với quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn cũng như các quy hoạch ngành có sử dụng đất.

Ngoài ra, Nghị quyết còn đề cập một số nội dung quan trọng khác như:

  • Nghiên cứu phân loại đất thành các nhóm lớn trong quy hoạch sử dụng đất quốc gia nhằm giảm chi phí hành chính khi chuyển mục đích sử dụng đất.
  • Bảo đảm quản lý chặt chẽ diện tích đất quốc phòng, an ninh, đất trồng lúa và đất rừng.
  • Nghiên cứu quy hoạch quốc gia về đất canh tác và xác định diện tích đất canh tác quốc gia tối thiểu.
  • Đổi mới chính sách quản lý đất trồng lúa theo hướng cho phép chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả nhưng vẫn bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
  • Xây dựng cơ chế, chính sách đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, bảo vệ rừng và ổn định đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
  • Khai thác hiệu quả không gian ngầm và không gian lấn biển như một nguồn lực phát triển mới gắn với yêu cầu quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

Giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất

Đối với cơ chế giao đất và cho thuê đất, Nghị quyết xác định nguyên tắc thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất đối với quỹ đất do Nhà nước quản lý.

Việc lựa chọn nhà đầu tư phải bảo đảm:

  • Công khai.
  • Minh bạch.
  • Cạnh tranh.
  • Lựa chọn đúng chủ thể có năng lực sử dụng đất hiệu quả.
  • Bình đẳng trong tiếp cận đất đai giữa khu vực công và khu vực tư.

Nghị quyết cũng yêu cầu quy định rõ:

  • Trường hợp phải đấu giá quyền sử dụng đất.
  • Trường hợp phải đấu thầu dự án có sử dụng đất.
  • Trường hợp không áp dụng đấu giá hoặc đấu thầu.
  • Trường hợp nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất.

Mỗi phương thức phải có điều kiện, tiêu chí, trình tự thực hiện, trách nhiệm và cơ chế giám sát rõ ràng nhằm vừa cải cách thủ tục hành chính, vừa phòng ngừa lợi ích nhóm, tham nhũng và lãng phí.

Người sử dụng đất được lựa chọn hình thức thuê đất

Một nội dung đáng chú ý là Nghị quyết cho phép người sử dụng đất lựa chọn hình thức:

  • Thuê đất trả tiền hằng năm; hoặc
  • Thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê,

căn cứ vào mục đích, phạm vi và thời hạn sử dụng đất.

Đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự và trụ sở của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước thực hiện giao đất trong hạn mức và không thu tiền sử dụng đất. Trường hợp tổ chức tôn giáo sử dụng đất vào mục đích khác thì phải trả tiền thuê đất theo quy định của pháp luật.

Định hướng về thời hạn sử dụng đất

Nghị quyết yêu cầu nghiên cứu thận trọng cơ chế giao đất, cho thuê đất có thời hạn đối với một số loại hình sử dụng đất, trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động đến phát triển kinh tế – xã hội, thị trường bất động sản, hệ thống tín dụng và quyền tài sản của người dân.

Theo định hướng của Nghị quyết:

  • Tiếp tục thực hiện giao đất, cho thuê đất có thời hạn đối với đất nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ, đất sản xuất kinh doanh và đất xây dựng trụ sở làm việc có chức năng ngoại giao.
  • Giao đất có thời hạn lâu dài đối với đất xây dựng nhà ở thương mại để bán, ưu tiên chủ yếu là nhà chung cư.
  • Đối với chung cư xây dựng mới, thời hạn sử dụng căn hộ chung cư được quy định theo niên hạn xây dựng công trình; khi hết thời hạn, chủ sở hữu căn hộ được quyền thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới chung cư theo quy định.
  • Hạn chế tối đa việc phân lô bán nền tại khu vực đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn.
  • Thời hạn sử dụng đất đối với nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách và nhà công vụ thuộc sở hữu Nhà nước là lâu dài.
  • Có chính sách ưu đãi trong giao đất và cho thuê đất nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển thị trường nhà ở cho thuê với giá phù hợp.

Kiểm soát việc chuyển mục đích sử dụng đất

Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tăng cường quản lý và kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất, nhất là đối với:

  • Đất trồng lúa.
  • Đất rừng phòng hộ.
  • Đất rừng đặc dụng.
  • Đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên.
  • Đất của các doanh nghiệp nhà nước thoái vốn, cổ phần hóa.
  • Các loại đất sử dụng đa mục đích.

Song song với đó là tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và cải cách thủ tục hành chính trong quá trình chuyển mục đích sử dụng đất.

Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất

Nghị quyết xác định việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, hạn chế phát sinh khiếu kiện và góp phần ổn định đời sống của Nhân dân.

Theo đó, cần quy định rõ hơn tiêu chí dự án và phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nhằm vừa bảo đảm chặt chẽ, vừa không gây cản trở việc triển khai dự án.

Một nội dung mới được Nghị quyết đề cập là Nhà nước thu hồi đất đối với phần diện tích còn lại của dự án khi nhà đầu tư đã thỏa thuận được phần lớn diện tích và nhận được sự đồng thuận của đại đa số người sử dụng đất trong phạm vi thực hiện dự án.

Ngoài ra, Nghị quyết còn định hướng:

  • Tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập để thực hiện trước.
  • Chính quyền địa phương được quyết định chính sách hỗ trợ khác phù hợp với đặc điểm của địa phương và đặc thù của từng dự án.
  • Các khu tái định cư phải bảo đảm hạ tầng, dịch vụ thiết yếu và quan tâm đến sinh kế của người dân.
  • Có cơ chế phòng ngừa hành vi tham nhũng, tiêu cực và trục lợi chính sách trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
  • Hoàn thiện tổ chức phát triển quỹ đất nhằm nâng cao hiệu quả tạo lập, quản lý và khai thác quỹ đất phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
  • Quy định cơ chế khai thác hiệu quả quỹ đất phụ cận các công trình kết cấu hạ tầng theo quy hoạch.
  • Xây dựng cơ chế để tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có quyền sử dụng đất tham gia thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội thông qua chuyển nhượng, cho thuê hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
  • Quy định cơ chế góp quyền sử dụng đất, điều chỉnh lại đất đai đối với các dự án chỉnh trang đô thị và khu dân cư nông thôn.
  • Kiên quyết thu hồi đất đối với tổ chức, cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp sử dụng đất không đúng mục đích hoặc chậm đưa đất vào sử dụng.

Giá đất, tài chính đất đai và điều tiết địa tô chênh lệch

Nghị quyết số 21-NQ/TW xác định cần thống nhất nhận thức về vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện cơ chế về giá đất, tài chính đất đai và điều tiết địa tô chênh lệch. Theo định hướng này, giá đất do Nhà nước quyết định trên cơ sở mục tiêu phát triển của từng giai đoạn, đồng thời bảo đảm chi phí đầu vào hợp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Việc xác định giá đất được yêu cầu dựa trên dữ liệu và phương pháp khoa học, bảo đảm công khai, minh bạch, kết nối với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành nhằm hạn chế tình trạng thao túng giá hoặc hình thành giá ảo trên thị trường.

Để bảo đảm sự hài hòa giữa các chủ thể liên quan, Nghị quyết định hướng Nhà nước ban hành:

  • Bảng giá đất.
  • Hệ số điều chỉnh giá đất.
  • Tỷ lệ thu tiền sử dụng đất.
  • Tiền thuê đất.
  • Tỷ lệ bồi thường phù hợp với tình hình thực tế và từng loại đất.

Phân định rõ trách nhiệm trong việc quyết định giá đất

Nghị quyết đưa ra nguyên tắc phân công trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương đối với công tác xác định giá đất.

Theo đó:

  • Trung ương xây dựng tiêu chí khung, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế kiểm tra, giám sát.
  • Địa phương thực hiện việc quyết định giá đất theo quy định.

Về tổ chức thực hiện:

  • Ở Trung ương, cơ quan tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giá đất.
  • Ở địa phương, cơ quan tài chính chủ trì, phối hợp với cơ quan nông nghiệp và môi trường cùng các cơ quan liên quan trong việc xây dựng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất.

Hoàn thiện chính sách tài chính về đất đai

Nghị quyết yêu cầu chính sách tài chính đất đai phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư.

Bên cạnh việc phân bổ hợp lý nguồn thu từ tiền sử dụng đất và tiền thuê đất giữa Trung ương với địa phương, cần xây dựng cơ chế điều tiết phù hợp đối với phần giá trị tăng thêm từ đất phát sinh do:

  • Quy hoạch.
  • Đầu tư kết cấu hạ tầng.
  • Chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
  • Mở rộng không gian đô thị.

Định hướng này nhằm phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, đồng thời tạo thêm nguồn lực phục vụ phát triển hạ tầng, chỉnh trang đô thị, phát triển nhà ở cho thuê và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Chính sách thuế và công cụ tài chính về đất đai

Đối với công cụ tài chính và chính sách thuế, Nghị quyết định hướng nghiên cứu xây dựng lộ trình phù hợp để khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và khắc phục các tồn tại trong thực tiễn.

Các chính sách được nghiên cứu hướng đến mục tiêu:

  • Hạn chế tình trạng bỏ hoang đất.
  • Khắc phục việc chậm đưa đất vào sử dụng.
  • Ngăn ngừa đầu cơ và găm giữ đất.
  • Hạn chế tình trạng đẩy giá đất, giá nhà vượt quá nhu cầu ở thực và khả năng chi trả của người dân.

Theo tinh thần Nghị quyết, chính sách cần được thiết kế để việc găm giữ đất nhưng không đưa vào sử dụng trở nên tốn kém hơn lợi ích thu được từ hoạt động đầu cơ.

Nghiên cứu điều tiết địa tô chênh lệch và hoàn thiện chính sách thuế

Nghị quyết tiếp tục đặt ra yêu cầu nghiên cứu áp dụng:

  • Chính sách điều tiết địa tô chênh lệch đối với phần thặng dư trong kinh doanh bất động sản.
  • Chính sách thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng.

Đồng thời, cần rà soát và hoàn thiện pháp luật về thuế sử dụng đất theo thông lệ quốc tế, phù hợp với trình độ phát triển, điều kiện thực tế và lộ trình của Việt Nam.

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng định hướng:

  • Có chính sách hợp lý về tiền sử dụng đất và tiền thuê đất đối với đất sản xuất, kinh doanh và đất phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp.
  • Thực hiện cơ chế điều tiết, phân bổ ngân sách hài hòa giữa các địa phương có diện tích đất trồng lúa lớn, diện tích đất rừng lớn với các địa phương khác.
  • Duy trì các chính sách ưu đãi về thuế, tiền sử dụng đất và tiền thuê đất phù hợp với lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư cũng như đối với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người có thu nhập thấp, người có nhà ở duy nhất và gia đình người có công với cách mạng.

Phát triển thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản

Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 21-NQ/TW là xây dựng thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản theo hướng minh bạch, ổn định và phát triển bền vững.

Theo đó, cần tăng cường công khai các thông tin liên quan đến:

  • Quy hoạch.
  • Pháp lý dự án.
  • Giá đất.
  • Giao dịch.
  • Nghĩa vụ tài chính.
  • Tình trạng thế chấp.
  • Tranh chấp.
  • Tình trạng sử dụng đất.

Việc minh bạch hóa thông tin được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo môi trường đầu tư và giao dịch thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất

Nghị quyết định hướng từng bước thúc đẩy thương mại hóa quyền sử dụng đất gắn với việc hoàn thiện hệ thống quản lý dữ liệu.

Các giải pháp được đề cập gồm:

  • Từng bước bắt buộc đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất.
  • Kết nối dữ liệu đất đai với quy hoạch, công chứng, thuế, ngân hàng, đăng ký bảo đảm và kinh doanh bất động sản.
  • Khuyến khích thực hiện giao dịch bất động sản qua sàn giao dịch.
  • Khuyến khích thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt phù hợp với từng loại chủ thể và phương thức giao dịch.

Hoàn thiện cơ chế để thị trường phát triển ổn định

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết yêu cầu phát triển thị trường cho thuê đất nông nghiệp, tập trung vào quỹ đất đã có hạ tầng kỹ thuật nhằm thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phục vụ sản xuất quy mô lớn, công nghệ cao trên cơ sở tự nguyện, minh bạch và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nông dân.

Ngoài ra, Nghị quyết còn định hướng:

  • Hoàn thiện cơ chế xử lý quyền sử dụng đất khi doanh nghiệp phá sản, tái cơ cấu hoặc chuyển giao dự án.
  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước cùng các bên liên quan.
  • Xây dựng cơ chế bảo đảm thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, an toàn và bền vững.
  • Kiểm soát chặt chẽ, khắc phục tình trạng đầu cơ đất đai.

Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp

Đối với đất nông nghiệp, Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt mục tiêu nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng gắn với yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững.

Theo đó, cần nghiên cứu mở rộng đối tượng và hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương, đồng thời gắn với quá trình chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, việc làm và lao động ở khu vực nông thôn.

Bên cạnh đó, người sử dụng đất nông nghiệp được tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi mục đích sản xuất cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Song song với việc khai thác hiệu quả quỹ đất, Nghị quyết cũng yêu cầu tăng cường quản lý chất lượng đất, khắc phục tình trạng thoái hóa và suy giảm chất lượng đất nông nghiệp.

Xử lý tồn tại liên quan đến đất của các công ty nông, lâm nghiệp

Nghị quyết định hướng xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để thu hồi diện tích đất do các công ty nông, lâm nghiệp đang sử dụng nhưng không đầu tư hoặc giao khoán không đúng đối tượng giao cho địa phương quản lý.

Đồng thời:

  • Phân định rõ diện tích tiếp tục do công ty nông, lâm nghiệp sử dụng với diện tích giao địa phương quản lý.
  • Giải quyết dứt điểm tình trạng chồng lấn, tranh chấp và khiếu kiện.
  • Thực hiện giao đất, cho thuê đất theo quy định và phù hợp với điều kiện của từng địa phương.
  • Có chính sách ưu tiên giao đất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thiếu đất sản xuất, đồng thời gắn với cơ chế phù hợp nhằm hạn chế việc chuyển nhượng sau khi được giao đất.

Xây dựng quy định đối với quản lý và sử dụng đất kết hợp đa mục đích

Nghị quyết số 21-NQ/TW yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đối với việc quản lý và sử dụng đất kết hợp đa mục đích nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội nhưng vẫn bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên đất.

Theo đó, các quy định pháp luật cần được rà soát, bổ sung đối với:

  • Quản lý và sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất và phát triển kinh tế.
  • Cơ chế quản lý, kiểm soát việc sử dụng đất kết hợp nhiều mục đích.
  • Chế độ sử dụng đất xây dựng công trình trên không.
  • Chế độ sử dụng đất đối với công trình ngầm.
  • Quản lý đất hình thành từ hoạt động lấn biển.

Việc hoàn thiện các quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình khai thác hiệu quả các loại hình không gian sử dụng đất mới, đồng thời bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai

Một trong những nhóm nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết là thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai, hướng tới xây dựng hệ thống quản lý hiện đại, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.

Theo Nghị quyết, cần ưu tiên bố trí nguồn lực để xây dựng và hoàn thiện Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai cũng như cơ sở dữ liệu đất đai theo đúng tiến độ, bảo đảm việc quản lý, vận hành, kết nối và chia sẻ dữ liệu được thực hiện tập trung, thống nhất.

Hoàn thiện cơ sở dữ liệu và đăng ký đất đai

Để nâng cao hiệu quả quản lý, Nghị quyết đặt ra yêu cầu:

  • Thực hiện đăng ký bắt buộc về quyền sử dụng đất và mọi biến động đất đai.
  • Có chế tài đồng bộ nhằm ngăn chặn các trường hợp giao dịch không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Không hồi tố đối với trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài.

Đối với các trường hợp vi phạm về thủ tục trong quá khứ nhưng đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

  • Người sử dụng đất đã sử dụng ổn định.
  • Không có tranh chấp.
  • Phù hợp với quy hoạch.
  • Không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, môi trường hoặc an toàn công trình.
  • Đã thực hiện hoặc cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

thì được xem xét công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu xác định rõ thời điểm, điều kiện, phạm vi áp dụng, trách nhiệm và chế tài để ngăn chặn phát sinh các vi phạm mới.

Kiện toàn bộ máy quản lý đất đai

Bên cạnh việc hoàn thiện dữ liệu số, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương và địa phương theo hướng:

  • Tinh gọn.
  • Ổn định.
  • Thống nhất.
  • Hiệu lực.
  • Hiệu quả.

Việc phân cấp, phân quyền trong thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai phải gắn với nguồn lực về dữ liệu, đội ngũ cán bộ và cơ chế kiểm soát quyền lực. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương; giảm đầu mối, giảm khâu trung gian và đơn giản hóa thủ tục hành chính phù hợp với mức độ hoàn thiện của cơ sở dữ liệu đất đai.

Ngoài ra, Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc:

  • Nâng cao năng lực của các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai.
  • Có cơ chế đầu tư, chính sách đãi ngộ, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ngành quản lý đất đai.
  • Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý hiện đại.
  • Tăng cường đầu tư cho hoạt động điều tra, đánh giá tài nguyên đất, thống kê, kiểm kê, giám sát sử dụng đất cũng như bảo vệ, cải tạo và phục hồi chất lượng đất.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm

Nghị quyết số 21-NQ/TW yêu cầu đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát trong toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai.

Theo đó, cần xây dựng hệ thống kiểm soát quyền lực trên nền tảng dữ liệu số thống nhất, liên thông và theo thời gian thực nhằm nâng cao khả năng cảnh báo, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng đất.

Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong lĩnh vực đất đai

Nghị quyết đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động:

  • Kiểm tra.
  • Giám sát.
  • Thanh tra.
  • Kiểm toán.

Việc quản lý và sử dụng đất đai phải được theo dõi thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực.

Đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nghị quyết yêu cầu tăng cường kiểm tra trách nhiệm của các ngành và các cấp, thực hiện phương châm giải quyết tranh chấp đất đai ngay từ cơ sở để hạn chế tình trạng khiếu kiện vượt cấp lên Trung ương.

Phát huy vai trò của chính quyền địa phương và cơ quan tư pháp

Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của cấp ủy, chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp xã trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo liên quan đến đất đai.

Bên cạnh đó, cần:

  • Khuyến khích hòa giải tranh chấp đất đai.
  • Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp.
  • Bảo đảm việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đúng quy định của pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Tập trung xử lý những tồn tại, vướng mắc kéo dài trong quản lý và sử dụng đất

Nghị quyết yêu cầu tập trung nguồn lực và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan Trung ương cũng như chính quyền địa phương nhằm giải quyết cơ bản các hạn chế, bất cập đã kéo dài trong lĩnh vực đất đai.

Theo đó, cần xây dựng cơ chế đặc thù để xử lý dứt điểm, công khai và minh bạch đối với các nhóm đất còn nhiều vướng mắc như:

  • Đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh.
  • Đất cơ quan, trụ sở dôi dư.
  • Đất sau cổ phần hóa, thoái vốn.
  • Các dự án tồn đọng, kéo dài.
  • Đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp đã di dời khỏi trung tâm đô thị lớn.
  • Các loại đất sử dụng đa mục đích.
  • Đất ở và đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
  • Những tồn tại phát sinh từ lịch sử trong công tác quản lý và sử dụng đất.

Thí điểm cơ chế mua lại dự án nhà ở thương mại

Một nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là chủ trương thí điểm thực hiện cơ chế Nhà nước mua lại dự án nhà ở thương mại của chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng để tạo quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.

Việc mua lại được thực hiện trên cơ sở tính đúng, tính đủ, hợp lý chi phí đầu vào của chủ đầu tư, không bao gồm địa tô chênh lệch.

Định hướng này nhằm bổ sung nguồn quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước để đáp ứng nhu cầu nhà ở của Nhân dân, đồng thời góp phần xử lý các dự án kéo dài, chậm triển khai.

Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và giám sát của Nhân dân

Nghị quyết tiếp tục khẳng định yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội cùng Nhân dân trong công tác quản lý và sử dụng đất.

Theo đó, cần đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật đất đai của cán bộ, đảng viên và người dân.

Đồng thời, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu, phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; chịu trách nhiệm theo quy định nếu để xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật, trục lợi, thất thoát hoặc sử dụng đất lãng phí trong phạm vi quản lý.

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đề cao vai trò giám sát và phản biện xã hội của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân nhằm kịp thời phát hiện, phản ánh những bất cập trong quá trình thi hành chính sách, pháp luật về đất đai để cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý.

Tổ chức thực hiện

Sau khi xác định các quan điểm, mục tiêu và nhóm nhiệm vụ trọng tâm, Nghị quyết số 21-NQ/TW cũng phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong việc tổ chức triển khai, bảo đảm quá trình sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 và các luật có liên quan được thực hiện đồng bộ, thống nhất trên phạm vi cả nước.

Tổ chức thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW

Để bảo đảm các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ được triển khai thống nhất, Nghị quyết số 21-NQ/TW phân công rõ trách nhiệm cho từng cơ quan trong hệ thống chính trị. Việc tổ chức thực hiện được yêu cầu tiến hành đồng bộ, kịp thời và gắn với công tác kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình triển khai.

Bộ Chính trị ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết

Theo Nghị quyết, Bộ Chính trị có trách nhiệm ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết; lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ và kịp thời nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức cũng như hành động của toàn hệ thống chính trị.

Đồng thời, Bộ Chính trị chỉ đạo các cơ quan liên quan chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện và xem xét, quyết định các chủ trương lớn khi cần thiết.

Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện

Nghị quyết giao nhiệm vụ cho:

  • Các tỉnh ủy, thành ủy.
  • Các ban đảng.
  • Các đảng ủy trực thuộc Trung ương.

Các cơ quan, đơn vị này có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt nội dung Nghị quyết; xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao.

Đảng ủy Chính phủ chủ trì sửa đổi Luật Đất đai và các luật liên quan

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Nghị quyết xác định là Đảng ủy Chính phủ chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Quốc hội sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 và các luật khác có liên quan.

Việc sửa đổi phải bảo đảm:

  • Đồng bộ.
  • Thống nhất.
  • Tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai Nghị quyết.
  • Phục vụ công tác giám sát trong phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, Đảng ủy Chính phủ còn có trách nhiệm:

  • Chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền.
  • Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch và đề án liên quan.
  • Chấn chỉnh việc thực thi pháp luật về đất đai.
  • Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
  • Theo dõi, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh quá trình triển khai phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Đẩy mạnh tuyên truyền và phổ biến Nghị quyết

Theo phân công của Nghị quyết, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Chính phủ hướng dẫn việc nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền nội dung Nghị quyết đến các cấp, các ngành và Nhân dân.

Mục tiêu là nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong quá trình triển khai chủ trương sửa đổi Luật Đất đai và các chính sách có liên quan.

Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội

Nghị quyết yêu cầu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai.

Song song với hoạt động giám sát, các tổ chức này có trách nhiệm đẩy mạnh công tác vận động để các tầng lớp Nhân dân tích cực chấp hành và tham gia giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết

Theo Nghị quyết, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương có nhiệm vụ:

  • Theo dõi quá trình triển khai.
  • Đôn đốc việc thực hiện.
  • Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong quá trình tổ chức thực hiện.
  • Định kỳ sơ kết, tổng kết và báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo quy định.

Việc theo dõi thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để có giải pháp xử lý, bảo đảm Nghị quyết được triển khai hiệu quả và thống nhất trên phạm vi cả nước.

Kết luận

Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra các quan điểm, mục tiêu và định hướng lớn nhằm sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 cùng các luật có liên quan.

Nội dung Nghị quyết tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất, phát huy nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Bên cạnh việc kế thừa những nội dung còn phù hợp của Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022, Nghị quyết số 21-NQ/TW cũng bổ sung nhiều định hướng mới liên quan đến quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, tái định cư, giá đất, tài chính đất đai, chuyển đổi số và phát triển thị trường quyền sử dụng đất.

Đây sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai, góp phần quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *